Tin tức ngành

Chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến 2030: Đặt nền tảng cho tăng trưởng bền vững và tự chủ công nghệ

linkedin.webplinkedin.webplinkedin.webplinkedin.webplinkedin.webplinkedin.webp
Chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến 2030: Đặt nền tảng cho tăng trưởng bền vững và tự chủ công nghệ - Created date06/04/2026

Ngày 02/4/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng đã ký ban hành Quyết định số 604/QĐ-TTg, phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030.

TMA Solutions
Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế.

Chiến lược đặt mục tiêu đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, lĩnh vực này cũng được kỳ vọng đóng góp trực tiếp vào phát triển nhanh và bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

Một trọng tâm quan trọng là nâng cao tiềm lực và trình độ khoa học, công nghệ, hướng tới đạt mức tiên tiến trong một số lĩnh vực then chốt. Việt Nam đặt mục tiêu từng bước làm chủ và phát triển các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, qua đó tạo nền tảng cho tự chủ công nghệ quốc gia.

Song song đó, Chiến lược hướng tới xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia hiện đại, có khả năng hội nhập sâu với quốc tế. Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ, cùng với việc phát triển đội ngũ doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có năng lực cạnh tranh trong khu vực và từng bước vươn ra thị trường toàn cầu.

Về các chỉ tiêu cụ thể, đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc nhóm 40 quốc gia dẫn đầu thế giới. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế dự kiến vượt 55%, trong khi tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao đạt tối thiểu 50% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) được kỳ vọng đạt tối thiểu 2% GDP, trong đó khu vực ngoài ngân sách nhà nước chiếm trên 60%. Ngân sách nhà nước cũng sẽ dành ít nhất 2% tổng chi hằng năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời tăng dần theo nhu cầu phát triển.

Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ sẽ được nâng cao cả về số lượng và chất lượng, với mục tiêu đạt 12 nhà nghiên cứu trên mỗi một vạn dân. Đồng thời, Việt Nam phấn đấu có ít nhất 50 tổ chức khoa học và công nghệ đạt chuẩn khu vực và quốc tế; số lượng công bố khoa học quốc tế tăng trung bình 10% mỗi năm.

Hoạt động sở hữu trí tuệ cũng được thúc đẩy, với số đơn đăng ký sáng chế và văn bằng bảo hộ tăng trung bình 16–18% mỗi năm, trong đó tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8–10%.

Ngoài ra, hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI) được đặt mục tiêu lọt vào nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới. Việt Nam cũng hướng tới nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo.

Ở cấp độ doanh nghiệp, năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo được kỳ vọng đạt mức trung bình toàn cầu. Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo dự kiến vượt 40%, trong khi tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ viện, trường đạt tối thiểu 30%.

Đáng chú ý, Chiến lược đặt mục tiêu hình thành từ 5 đến 10 doanh nghiệp công nghệ quy mô khu vực trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược, đồng thời làm chủ và sản xuất trong nước một số sản phẩm công nghệ có tác động lớn đến kinh tế và an ninh quốc gia.

Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Chiến lược xác định 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, bao gồm: phát triển công nghệ và sản phẩm chiến lược; củng cố các lĩnh vực khoa học nền tảng; xây dựng hạ tầng khoa học, công nghệ và dữ liệu quốc gia; phát triển tổ chức khoa học và nguồn nhân lực chất lượng cao; hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và thị trường công nghệ; cũng như thúc đẩy hội nhập quốc tế và ngoại giao khoa học, công nghệ.

Bên cạnh đó, các giải pháp mang tính đột phá về thể chế, cơ chế quản lý, tài chính và huy động nguồn lực cũng được đưa ra, đi kèm với cơ chế giám sát, đánh giá và điều chỉnh linh hoạt trong quá trình triển khai.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 569/QĐ-TTg ngày 11/5/2022 về Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030.

Nguồn: Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế